Địa thế phong thủy của Thành Phố Nha Trang,tỉnh Khánh Hòa- Cửa hàng phong thủy tại Nha Trang

Cuộc đất vùng đất Nha Trang, theo phong thủy gọi là ” Tứ thủy triều quy, Tứ thú tụ “.
Tức là:
– Tứ thủy là 4 mặt có nước bao bọc. Do hai phía: Nam và Bắc được bao quanh bởi con Cái và Sông Đồng Bò, một cái chảy xuống cửa Bé, một cái chảy xuống cửa Lớn, ôm quanh lấy thành phố. Mặt phía đông là Biển.
– Tứ thú tụ là 4 hòn núi, tượng hình 4 con thú tụ lại để giữ gìn địa khí. Giúp điều hòa âm dương của địa khí và sự vượng phát của cuộc đất.

Bốn ngọn núi đó là:

1. Hòn Trại Thủy : là một hòn độc sơn, nằm ngay ở địa đầu thành phố Nha trang về hướng Tây. Hình thù ngọn núi Trại Thủy giống một con Dơi, nằm sè đôi cánh, đầu hướng về Tây-Nam. Núi cao hơn 30 mét, dài hơn 500 mét, chạy dọc theo Quốc Lộ 1 ở phía Bắc từ con đường Cải Lộ Tuyến chạy ra ngã Ba Thành ( là đuôi và chân dơi ) đến khu vực chùa Long Sơn, chùa Hải Đức, Bửu Long ( là đầu con dơi ). Hòn Trại Thủy còn có tên là Hòn Xưởng hay Hòn Kho. Cổ nhân gọi là ” Ngọc Bức Hàm Hoàn ” ( Dơi ngọc ngậm vòng ngọc ) vì trước núi, tại ‘đầu Dơi’ có một bầu nước hình tròn như nguyệt, nhưng ngày nay bị lấp mất. Và dân chúng cất nhà trên bầu nước này và không còn nhận ra hình dạng của nó nữa. Triền phía sau toàn đá hoa cương và dốc ngược: giáp Đình Phương Sài, chạy dài lên tận đường rầy xe lửa xóm Lò Vôi ( khu vực phường Ngọc Hội ). Triền phía trước hơi lài lài, cũng bằng đá hoa cương nhưng có lẫn đất điệp. Phía dưới có một khoảng đất rộng, dân đến chiếm xây nhà lập nghiệp. Khu vực này là ngay ngã 3 phường Phương Sài, đối diện với công viên. Trên lưng núi cũng tạo thành một con đường mòn,chạy dài từ đầu tới đuôi của hòn núi. Nơi đây một Kim Thân Phật Tổ được xây cất, rất đồ sộ. Chính là tượng Phật Trắng mà ai cũng biết ở Nha Trang. Hồi nhỏ khi còn ở Phương Sài hay theo bạn leo núi ở phía sườn bên Phường Phương Sài rồi đi ra phía chùa Long Sơn phía bên kia Mã Vòng, nơi tượng Phật Trắng to lớn, để chơi thả diều trên núi. Lúc đó còn nhớ núi cũng đã bị khai thác và đào bới nham nhở rồi. Hòn Trại Thủy đứng giữa đất bằng, nhiều người tưởng là một hòn núi độc lập. Nhưng theo các nhà địa lý học thì núi thuộc hệ thống vùng núi Cao Nguyên. Và theo Phong Thủy, đó là Trấn Thủy Khẩu của dãy núi phía Tây Diên Khánh. Long mạch phát từ Hòn Thị (ở Bình Khánh, Diên Khánh),chạy ngầm dưới đất đến gần cửa sông Cù thì đột khởi làm cột trụ giữ anh khí cho cuộc đất Diên Khánh, Vĩnh Xương. Và thành Diên Khánh lấy Hòn Thị ở phía Tây làm hữu bậc, lấy Hòn Trại Thủy ở phía Đông làm tả bậc. Vì vậy,về mặt phong thủy, hòn Trại Thủy là hòn núi quan trọng của tỉnh Khánh Hòa.

Hình không ảnh lấy từ google cho thấy Hòn Trại Thủy hình giống con dơi và đầu dơi là vị trí chùa Hải Đức. Còn chùa Long Sơn thì nằm tại vị trí Cánh và Cổ Dơi. Trước đầu Dơi không còn có bầu nước tròn nữa. Dơi tượng trưng cho Phúc Đức lại thêm tượng Phật Trắng trên đỉnh núi đã góp phần làm cho Nha Trang bình yên trước những thiên tai và biến động.

 

 

2 . Hòn Hoa Sơn : tục gọi là Núi Một, ở khu vực phường Phước Tiến và Phước Tân. Đi vào thành phố bằng con đường Thái Nguyên, ngay Ngã Sáu-nhìn bên phải thấy nhà thờ Núi, đồ sộ, uy nghi, được xay trên một hòn núi nhỏ, đây chính là hòn Hoa Sơn ( Núi Một ). Nguyên thủy lúc ban sơ, hòn núi này không bị cắt thành hai cụm núi nhỏ, nó trông giống con Rùa vì phần núi nhỏ hướng ra biển Đông như “đầu Rùa”, trên có ngọn cổ Tháp nhỏ. Phần núi lớn hướng về phía Tây là ‘thân Rùa, nên gọi là “Kim Qui đới Tháp”, nghĩa là Rùa Vàng đội tháp. Khi đất nước chia đôi, dân miền Bắc di cư vào Nam, thành phố Nhatrang cũng đã tiếp nhận một số khá đông đồng bào miền Bắc và họ đã định cư tại khu Xóm Mới – Phước Hải, từ đó thành phố nới rộng ra và phát triển mạnh và con đường mòn qua cổ Rùa trở thành con đường Phước Hải ( nay đổi thành là Nguyễn Trãi ) với chiều rộng 8 mét, hai bên đường nhà cửa mọc lên như nấm và từ đấy hòn Hoa Sơn bị cắt hẳn thành hai phần rỏ rệt, cắt lìa đầu Rùa.

Qua không ảnh thì thấy Kim Quy không còn nữa, đã mất hẵn đầu. Chỉ còn lại cái mình bé nhỏ chở nhà thờ Núi trên lưng. Quy là rùa vốn là loài trường thọ nên thường mang ý nghĩa cho sự ổn định, trường tốn và vững bền. Là hình ảnh tượng trưng cho văn hóa, tri thức, cho sự học. Nay rùa gần như Chết vì mất đầu, linh khí thoát đi gần hết. Việc xây nhà thờ Núi bên trên, hình giống con rùa nhỏ ngẩng cao đầu, trên vô tình giúp giữ lại chút linh khí còn lại cho vùng đất… cho nên nghiệm lại hình như sự phát triển kinh tế, xã hội của thành phố chưa có sự ổn định và bền vững. Kim Quy là một trong 4 tứ Linh ( Long – Lân – Quy – Phụng )… Tiếc thay !

3. Núi Cảnh Long ở Chụt, là hình tượng Con Rồng : Cảnh là bờ cõi – Long là tốt, thịnh. Không hiểu cổ nhân thủ nghĩa ra sao, có người hỏi cụ cử Phan Bá Vỹ làm ký lục Tòa Sứ Nha trang thời tiền chiến , cụ đáp : ” Có lẽ ông cha chúng ta biết trước rằng thế nào vua ta cùng các quan bảo hộ cũng đến cất dinh thự để làm nơi thừa lương nghỉ dưỡng, nên mới đặt tên là núi Cảnh Long. Hình thế núi chạy dài theo bờ biển, giống như một con Rồng xanh. Phong Thủy gọi là “Thanh Long hý thủy”, tức là Rồng xanh giỡn nước.

Con đường Trần Phú chạy dài đến Cảng Cầu Đá, qua một cái dốc ngay ngã rẻ lên dinh Bảo Đại. Chính con dốc này là ” vết chém ” ngọn nuí Cảnh Long thành hai phần: một phần nhìn ra biển, gọi là “đầu Rồng “, phần còn lại chạy dài đến tận cửa Bé, gọi là “mình Rồng “. Ngoài ra còn có một con đường piste chạy vòng theo từ sườn phía Đông cho đến Cửa Bé ( cảng cá Vĩnh Trường ), chạy vòng lên sườn phía Tây, để xuống đất bằng trở về Chụt, đường này có thể gọi là ” đường vòng mỹ cảnh “. Ngoạn mục nhất là đoạn đường chạy ra biển. Nằm trên lưng chừng núi, đường khi lên khi xuống, uốn éo quanh co, như con rắn bò quanh một hòn non bộ. Viện Hải Dương Học nằm dưới ngay đầu Rồng. Hình không ảnh cho thấy ngọn Cảnh Long, còn nguyên vẹn. Thanh Long – Rồng Xanh trong phong thủy chủ về sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, là tài lộc. Hình tượng của Núi Cảnh Long – Rồng Xanh giỡn nước ( thủy là nước – là tượng trưng cho tiền tài ) mang ý nghĩa lạc quan về tiền tài như nước cho vùng đất. Sự phát triển du lịch tại đây là một hướng đi đúng, cho sự phát triển nên kinh tế không khói đầy lợi nhuận của thành phố Nha Trang.

4. Hòn Sinh Trung : là một hòn độc sơn, đứng trên mé đầm Xương Huân, cạnh bến Hà Ra của con sông Cù. Phong Thủy gọi là “Bạch Tượng quyện hồ” tức là Voi trắng cuốn hồ nước. Truyền rằng : lúc ban sơ không có đầm cũng không có núi . Khi nữ thần Poh Naga giáng thế, sấm trời nổi dậy báo cho vạn vật biết tin, thì một con Cù sanh từ lúc khai thiên lập địa nằm ngủ quên trong lòng đất, giật mình vùng dậy, những lớp đất đá đã phủ lên mình Cù bị hất tung lên thành Núi và nơi Cù nằm lủng xuống thành Đầm. Cho nên Đầm có tên là Cù Đàm và Núi có tên là Cù Lĩnh.

Hình ảnh xưa của Đầm Cù Đàm – sau lấp đi và xây chợ Đầm lên trên.

Đầm nằm ôm chân núi, núi đứng soi bóng vào lòng đầm. Nước trang điểm cho non, non trang điểm cho nước. Tương y tương ỷ, ngày nắng cũng như ngày mưa. Những đêm gió mát trăng trong, lên núi Cù Lĩnh xem Đầm thì cực kỳ thanh thú như chốn bồng lai tiên cảnh. Mặt đầm như tờ giấy băng cơ trắng láng và vầng trăng như quả ấn ngàn châu treo lơ lửng trên bầu trời, mờ mờ dưới chân núi là nhà cửa với những ngọn đèn dầu leo lét hay ngọn đèn điện thắp sáng choang-cây cối chỗ thấp, chỗ cao ẩn hiện trong ánh đèn khi thành phố bắt đầu sinh hoạt về đêm.

Một góc đầm Cù Đàm ngày xưa

Ngày nay, Cù Đàm bị lấp đi, để xây một ngôi chợ hình tròn, đó là chợ Đầm Nha Trang, Cù Lĩnh trơ trọi một mình, không còn soi dưới bóng nước đầm, và con Voi trắng không còn nước để uống khi trời hạn hán. Con Voi trở nên bơ vơ giữa cảnh ồn ào, náo nhiệt của một thành phố đông người khi một cuộc ‘di dân có qui mô’ sau năm 1975, và sự qui hoạch vô kế hoạch và thiếu quản lý hiện nay.

Trên không ảnh này thấy rằng hòn Sinh Trung, nơi tọa lạc chùa Kỳ Viên, vị trí con voi bây giờ xa cách nhiều với chợ Đầm. Và cái đầm dài và rộng ngày xưa đã mất hẳn. Kích thước con voi cũng bị nhỏ đi. Bạch Tượng là linh vật trong văn hóa Chămpa, Tây Tạng, Ấn độ và Nhật Bản. Phong Thủy xem bạch tượng tượng trưng cho lòng nhiệt thành, sự bền tâm vượt khó, là trí thông minh và sự thành công trong kinh doanh. Đầm nước trong sạch mất đi, tựa như lợi ích của tài lộc mà bạch tượng này cần uống để bảo vệ cho việc phát triển kinh thương của vùng đất, đã mất đi. Cho nên mãi đến nay khu vực chợ Đầm vẫn như vậy mà không thể bộc phát lên trở thành một trung tâm kinh doanh lớn.

Theo nhà phong thủy, Huyền Vi, viết trong cuốn sách Thiền và Phong Thủy, đã nói về hình thể cuộc đất Nha trang như sau : ” Hình thể thành phố Nha trang rất giống một Con Cóc. Bãi biển Nhatrang là bụng Cóc, hai chân sau là vùng Cầu Đá , hai chân trước chạy ra đến gần Hòn Chồng. Sóng biển vỗ quanh năm vào bụng Cóc. Điều quan trọng là con Cóc Nha trang tuy ngon lành thật nhưng chưa đủ hấp dẫn để dụ Xà Tinh – Thanh Long ( là long mạch dãy núi Cảnh Long nói trên ) vào miền Nam. Vậy phải làm sao thay đổi long mạch cho con Cóc mau chóng ngậm một hạt Minh Châu để cho Xà Tinh tăng thêm sự ham muốn “.

Sau khi long mạch dãy Cảnh Long nhờ con Cóc được làm cho vận hành mạnh mẽ, “đốt giai đoạn ” thì chợ Đầm, ngôi chợ chính của Nha trang , bị hỏa hoạn thiêu rụi. Đất Trời xui khiến thế nào Kiến Trúc Sư vẽ lại Chợ Đầm để tái thiết lại, đã vẽ thành một hình thể độc đáo, hiếm có : chợ Đầm hình tròn ! Nhìn lên bản đồ thành phố Nha trang ta thấy rõ ràng hình con Cóc ngậm hạt Minh Châu hình tròn ! Ngày nay, nếu ta đi máy bay nhìn xuống Nha trang, ta sẽ thấy hình thể của một con Cóc khổng lồ ngậm hạt minh châu! So với thiết kế thì chợ Đầm xây chưa hoàn tất, phía bên tay trái hai chung cư A va B đã xong , còn chung cư C và D bên phải chưa dựng nên phần này đã hở hẳn ra, phía sau chợ chạy dài ra tận nhánh sông Hà Ra một khoảng đất trống lớn, dân đã chiếm cứ và cất nhà ở lộn xộn… nên không thể xây phần nối tiếp khu chợ trái cây và bán thịt cá với cái cảng nhỏ cho ghe thuyền từ các nơi vào, tạo thành một khối chữ T án ngữ mặt sau. Như thế hạt Minh Châu ở cái thế nửa kín nửa hở. Long Mạch nếu kết liền được với địa khí đất Nha Trang, theo hình ảnh Con Rắn xà tinh hay Thanh Long ngậm chân con cóc và con cóc ngậm hạt ngọc thì sự liền lạc của địa khí được lưu thông để vượng phát. Tuy nhiên hạt ngọc như nói ở trên là chưa hoàn thiện, chưa được ” mài giũa ” cho bóng đẹp nên Con Cóc chưa phát được. Khu vực này sẽ giúp thành phố Nha Trang vượng phát khi chợ Đầm, sẽ làm tâm của một bát quái và các qui hoạch theo đúng qui hoạch của thuật Phong Thủy đảm bảo sự thông thoáng ra biển, các toà nhà phải được xây cân đối trên bề mặt tổng thể. Có như thế mới tối ưu được địa khí long mạch của thành phố Nha Trang.

Dấu hiệu chữ A là vị trí chợ Đầm – nhìn hình thể như con cóc chồm tới ngậm chợ Đầm tròn

Nói về địa lý phong thủy tạo dựng mảnh đất Nha Trang nhìn từ biển Thái Bình Dương vào, mảnh đất Nha trang là một bãi cát trắng rộng với bốn hòn núi trấn bốn góc tạo cái thế Bốn Con Thú qui tụ gồm: Long ( tại Cầu Đá ), Tượng ( tại Sinh Trung, chợ Đầm ), Dơi ( tại Mã Vòng) và Qui ( tại Ngã Sáu ). Long Mạch thành phố lấy hai hòn núi : Hòn Trại Thuỷ và Hòn Thị ở Diên Khánh làm Hữu và Tả bậc , với bốn mặt có hai con sông Cái và sông Đồng Bò ôm choàng cuộc đất mà phía Đông là biển khơi. Cuộc đất Nha Trang tuy Đại Quý Đại Phú như vậy nhưng long mạch chưa hình thành trọn vẹn, liền lạc, vẫn còn đứt gãy ở dòng sông Đồng Bò… Các Linh Thú mà thiên nhiên ban cho vùng đất, qua sự phát triển của thành phố đã bị thay đổi, phá bỏ, hoặc san bằng dần, như ta cũng thấy Long, Qui bị trảm thủ, Tượng thì mất nước Đầm để uống, Dơi thì mất Ngọc… cho nên Cuộc đất này khó phát, mà phát thì cũng không kéo dài được… Sự vượng phát của một vùng đất, của một quốc gia, phải bao gồm đủ ba yếu tố : Thiên thời ( các cơ hội để phát triển ), Địa Lợi ( các yếu tố phong thủy, mặt bằng cơ sở hạ tầng, những thuận lợi về mặt địa lý, giao thông, xã hội… ), và Nhân Hòa ( Con Người có tâm cho quê hương, đất nước, những nhân tài có tầm nhìn chiến lược, nhân sự… ). Trong đó yếu tố Nhân Hòa luôn là quan trọng nhất. Singapore là một ví dụ, cho dù họ chỉ có những công trình phong thủy nhân tạo…

Biên soạn xong ngày 21/01/2010.

Phụ lục chú thích các địa danh:

* Núi Trại Thủy thường gọi là Hòn Xưởng. Tên chính thức đã được ‘trước bạ’ trong sách vở là Khố Sơn, tục danh Hòn Kho. Đại Nam Nhất Thống Chí chép: ” Khố Sơn ở phía Đông huyện Vĩnh Xương độ hai dặm. Phía Đông Nam có nền cũ kho Phước Sơn nên đặt như thế. Phía Bắc gần sông Ngu Trường. Năm At Mão đầu lúc Trung Hưng (1795) đại binh đánh phá tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu ở bảo Khố Sơn tức là chỗ này. Trên núi có đền Quan Công và miếu Ngũ Hành.” Ly sở Vĩnh Xương trước kia đóng ở Phú Vinh, nên sách nói ” Khố Sơn nằm ở phía Đông “. Và kho Phước Sơn là kho chứa lương thực từ thời Chúa Nguyễn. Nhà Tây Sơn chiến thắng chúa Nguyễn, lập xưởng đóng thuyền bè tại Hòn Kho. Từ ấy núi mang tên Hòn Xưởng.” Sau khi lấy lại được Diên Khánh, Nguyễn Phúc Ánh lập trại nơi Hòn Xưởng,gần bến Trường Cá ( tức Phương Sài ) để thuỷ binh đóng giữ mặt biển. Người địa phương bèn gọi là Hòn Trại Thủy. Sang thời Pháp thuộc, tên Trại Thủy được ghi trên các bản địa đồ và trên giấy tờ hành chính của Chính Phủ. Trông Hòn Trại Thủy có vẽ hiền lành, mấy ai ngờ rằng trước kia đã xãy ra nhiều cuộc quyết chiến ngay dưới chân núi. Đó là những trận đánh ác liệt giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn năm Quí Sửu (1793) và năm Giáp Dần (1795) tại bến Trường Cá. Và năm Ất Dậu (1885) Nghĩa Quân Cần Vương đã dùng nơi đây làm căn cứ chống Pháp.

** Hòn Hoa Sơn – Núi Một: Vào thời vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786), một vị Thiền Sư, pháp danh Phật An đến cất một am tranh tu khổ hạnh trên hòn Núi Một-Năm Bình Ngọ 1786, vị Thiền Sư thiết hóa trà tỳ (tự hỏa tán), đệ tử thâu xá lợi, xây Liên Hoa tháp thờ phụng ở trên đầu hòn núi Một. Khi người Pháp chiếm cứ tỉnh Khánh Hòa, núi Hoa Sơn chỉ có một ngọn cổ tháp của Thiền Sư Phật An và nơi ‘cổ Rùa’ người ta khai phá một con đường mòn đi qua vùng Phước Hải-Đồng Bò để kiếm củi, đốt than, bắt cá hay đi chặt những nhánh mai vào dịp gần Tết, vì đây là một động mai vàng tuyệt đẹp, được khen qua những vần thơ : ” Mã Vòng đêm trắng, ma trêu nguyệt Phước Hải rừng mai, cọp thưởng Xuân ” Hay : ” Biển Én sóng vờn trăng thúy liễu, Đồng Bò hương thoảng gió hoàng mai ” Vào năm 1930-1935, một nhà truyền giáo người Pháp tên là Vallet, kiến lập ngôi giáo đường này. Nhà thờ kiến trúc không giống như những giáo đường trong nước và đặt tên là Nhà Thờ Chánh Tòa Nhatrang , dân địa phương gọi là nhà thờ ông Cố hay nhà thờ Núi.

*** Núi Sinh Trung: Núi không cao lắm, đi lên đỉnh núi chỉ cần bước trên 90 bậc cấp, được làm bằng xi măng, ngay chân núi có xay một cổng Chùa mặc dù trên đỉnh núi vẫn còn cổng Miếu cũ , nay đã trùng tu rất đẹp. Đối với thành phố Nha trang thì núi Sinh Trung chẳng khác nào như một hòn non bộ đứng trong vườn cảnh xung quanh có sông nước bao bọc; rừng dừa, cây cối, dương liễu xếp thành hình vòng cung theo dọc bờ biển. Trên đỉnh núi là một vùng đất rộng khoảng hơn 150 m chiều dài và 100 m chiều ngang nhưng thiết trí chùa cũng rất gọn và trang nghiêm. Vào năm 1802- 1852, triều Nguyễn dựng một cái Miếu thờ 350 vị công thần bị tử trận hay bị mệnh vong trong khi tranh hùng với nhà Tây Sơn, miếu có tên là Tinh Trung , sau đổi là Sinh Trung. Tên núi mượn tên Miếu mà kêu. Người địa phương cũng thường gọi là núi Ha Ra . Ha Ra là tên khu vực . Sách Đại Nam chép là A La. Năm Tự Đức thứ 5 (1852) trùng tu miếu và đặt lại tên là Trung-Nghĩa miếu. Đến năm 1945 -1950, Đức bà Từ-Cung và một số hào lão làng Vạn Thạnh vận động hiến cúng Miếu cho Giáo Hội Phật Giáo Khánh Hòa , vị trù trì đầu tiên là Hoà Thượng Thích Thiện Minh, đặt tên chùa là Khuôn Hội Kỳ Viên. Kế thừa là Hòa Thượng Thích Từ Mãn, Hòa Thượng Thích Chí Tín, Đại đức Thích Viên Mãn. Từ đấy thật sự Miếu Sinh Trung đổi thành tên Kỳ Viên Trung Nghĩa Tự . Năm 1990, thầy trù trì Thích Trí Viên cùng Phật Tử khắp nước và địa phương phát nguyện cúng dường trùng tu chùa : xây dựng phần chánh điện rất trang nghiêm, nhà Tổ và những công trình phụ trông rất mỹ quang như đúc tạc các tượng Đức Di Lặc với lục tặc đặt trước cổng chùa, tượng Đức Quan Thế Am đứng trên toà sen, nhìn về hướng Đông, đặt sau lưng chùa với một công viên trồng hoa, hai bên có những bức tường đá dùng làm những hộc đựng hài cốt. Phía sau chùa một khoảng đất trống lớn xây một gác chuông với một Đại Hồng Chung cao hơn 1 mét bên cạnh có một hồ nuôi cá với những hòn non bộ và cây cảnh, cây mai chiếu thủy nở hoa trắng suốt bốn mùa , có cầu nhỏ bắt qua trông rất thơ mộng. Bên phía trái Chùa là một dãy nhà trù dành cho cho việc ăn ở của các Tu sĩ. Toàn công trình được hoàn tất vào tháng 2 năm 1992. Vào năm 1995, chùa lại xây thêm một nhà mát tứ giác hai tầng, dùng vào việc tiếp khách thập phương, đối diện với nhà trù.

Bài Viết Liên Quan